Những bước đường đã đi qua – F.X. Ngô Phục (- Năm Giúp Xứ Kinh Hoàng, Niên Khoá 1967-1968. (tiếp theo 2…))

(3) – Năm Giúp Xứ Kinh Hoàng, Niên Khoá 1967-1968. (tiếp theo 2…)

+ Đã nghèo còn phải trắng tay…

Có ở và sống nghèo với người nghèo ta mới thấy được sự khốn khổ, lo toan và bế tắc của họ !… Họ nghèo từ kiến thức, cha truyền con nối vì tiền đâu mà đi học ! Họ nghèo về tiện nghi cuộc sống và việc làm, về ăn mặc… Môi trường và thời tiết quá khắc nghiệt nhưng không dám mạo hiểm đi tìm môi trường mới do không có những thông tin,  không có những mối liên hệ rộng rãi, nhất là do không nỡ bỏ mồ mả ông bà tổ tiên, nơi chôn nhau cắt rốn…

Lần nọ tôi đứng dưới cụm tre hàng rào nhà xứ, khoảng ba giờ chiều, trời còn nắng gắt… Những khoảnh ruộng, rẫy trước mắt tôi toàn là màu vàng của cỏ khô… Một đàn bò chừng vài chục con ốm nhom, chắc của cả làng đang đi qua… Tự nhiên cả đàn bò dừng lại, ngước đầu nhìn lên trời ! Tôi nghe tiếng máy bay. Nhìn lên tôi thấy một chiếc “bà già” đang lượn qua… Rất nhiều tờ truyền đơn được thả xuống bay lượn óng ánh như một đàn bướm trắng đang tung tăng ! Nội dung của những tờ giấy tâm lý chiến ấy là kêu gọi bộ đội Việt cộng chiêu hồi và lên án miền Bắc xâm lược… Những con bò không biết đọc nhưng theo dõi từng tờ đang rớt xuống, ngoạm lấy và nhai từng tờ ngon lành như trong một bữa tiệc !… Thật tội nghiệp cho cả loài vật khi được đầu thai trong môi trường nghèo ! Bà con thì tranh thủ lượm về nhúm lửa hay gói đồ… Cảm ơn “bà già” bay trên cao với tiếng máy nổ dễ thương nghe quen thuộc nơi vùng có chiến sự… Cũng phải xót xa với bà con nghèo có khi phải dành nhau những thứ nói ra thấy tội nghiệp : Những con bò thả rong ngày ngày thải ra những thứ… đen đen… Hôm sau thì khô lại, có những trẻ em đi lục lọi lượm mang về ủ phân… Tội nghiệp ! Chúng tranh dành nhau, lắm khi cãi cọ và thậm chí đánh lộn… Người lớn đôi khi cũng gặp thử thách này nhưng ít hơn…

Có một số lần tôi gợi ý “chuyển vùng” với những người “có máu mặt” nhưng chẳng ai nghe… Vấn đề mồ mả dường như là trở ngại chính ! Và rồi… vào dịp chuẩn bị ăn tết Mậu Thân, không biết gia đình tôi từ giáo xứ Nghĩa Yên, Giáo phận Xuân Lộc, Đồng Nai nhớ tôi hay có “linh tính” gì, nên đánh điện cho tôi : “Mẹ đau nặng !”. Cả nhà giấu mẹ ! Tôi được cha sở cho về nhà thăm mẹ và ăn Tết…

Tôi giúp một giáo xứ mà thành hai : Vừa Phước Sa vừa Đông Hà, nơi đây tôi giúp cha Phao-lô Nguyễn Thanh Hoan dạy trường trung học Đắc Lộ… Bốn ngày ở Phước Sa, hai ngày ở Đông Hà dạy tiếng Pháp và … đá banh ! Sân banh cũng là sân trường… Điều lạ là khi tôi ở Phước Sa thì Đông Hà bị pháo kích… Khi tôi ở Đông Hà thì Phước Sa bị du kích quấy nhiễu ! Tôi nói khi tôi không có mặt ở cả hai giáo xứ thì e rằng… Và quả thực đã xảy ra như thế trong Tết Mậu Thân…

Ở Đông Hà nhà thờ, nhà xứ, bị pháo kích gây nhiều thương vong cho bà con, hầu hết là dân thường, đàn bà, trẻ con !… Máu và thịt văng tung toé khắp nơi, dính lên các vách tường và trần nhà thờ, nhà xứ, còn để lại một số người mất tay mất chân, tàn tật suốt đời… Chiến tranh thật là ghê gớm!…

Còn Phước Sa thân yêu của tôi nữa… Tôi có thể nói ở đây là sự tận cùng của nỗi khổ đau, của tủi nhục và của mất mát trắng tay, từ nhà truyền giáo, thầy giúp xứ và toàn thể dân làng, lương cũng như giáo…

Nhà thờ bị san bằng, nhà xứ là một hố bom đầy nước xanh lè ! Chiếc nệm cháy xém và sách vở của tôi bồng bềnh giữa ao !… Cái chuông vỏ bom bay xa gần 100 mét, ba phần tư nghĩa địa biến mất ! Khủng khiếp !… Phước Sa chắc sẽ mất vĩnh viễn trên bản đồ hoặc ít nhất là 50 năm sau may ra mới được tái sinh…

Làng có vài chục bảo an và dân vệ… Người ta nổ súng và càn vào khoảng ba đại đội (có người nói hơn thế…), toàn lính thiếu nhi, nói giọng Bắc và Nghệ Tĩnh… Dân biết lối rẽ đường tắt nên chạy kịp, bỏ của chạy lấy người !… Không có ai chết và bị thương, kể cả dân vệ… Họ chạy lên hướng quốc lộ, nơi có đồn lính quốc gia bảo vệ và cứu đói họ… Ở đó đã hình thành một giáo xứ giúp bà con chạy giặc có nơi nương tựa và nơi thờ phượng. Có cha Phê-rô Trương Công Giáo và cha F.X. Nguyễn Văn Nam, phụ tá đang phục vụ… Đó là giáo xứ Quán Ngang… Phước Sa là một ốc đảo đúng nghĩa. Những kẻ vốn đói khát tràn vào tha hồ mà no ! Mùa Tết thường thì nông sản còn đầy kho, rồi bánh chưng bánh tét cho ngày Tết chưa kịp ăn, biếu ! Rồi heo, gà, vịt, bò… Phải lo mạng sống trước những tiếng đạn nổ, tiếng hô xung phong, tiếng rít của những cái siflet hớp hồn ! Lo vắt giò lên cổ mà chạy rớt dép, ai dám nhìn lui !… Họ đã đóng quân “đông như kiến” ở cái làng nhỏ bằng… nắm tay ! Bà con nói thế…

Rồi chỉ vài hôm lính Mỹ và lính quốc gia, đã đổ quân bằng trực thăng vây một vòng tròn quanh “ốc đảo”. Một con chó cũng khó chạy thoát ! Từng đoàn xe tăng kéo đến từ Đông Hà, từ các căn cứ C1, C2 của Mỹ. Họ không tấn công bằng bộ binh, bằng súng nhỏ mà chỉ bắn đạn súng lớn từ xe tăng, từ pháo binh vào tọa độ trung tâm vòng tròn của cuộc bao vây… Trên cao thì những trực thăng “chuồn chuồn” thay nhau quần thảo, tỉa từng mục tiêu di động như một trò chơi, vì phía dưới không có điều kiện chống cự trong một thế trận… săn thỏ ! Bà con nói, trước khi phản công, máy bay kêu gọi đầu hàng nhiều lần, chỉ rõ nơi tập trung nhưng chẳng ai nghe !…

Tôi đã cấp tốc sau Tết trở về “nhiệm sở”… Những ngày ăn Tết bên gia đình tại giáo xứ Nghĩa Yên, đêm đêm tôi toàn nằm ở bờ Ấp chiến lược nghe súng nổ và thấy lửa cháy nhiều nơi. Kho đạn thành Tuy Hạ bị pháo kích, nổ lửa sáng rực cả vùng trời miệt Long Thành, Đồng Nai… Hai nơi tôi làm việc tan hoang và thê lương !… Đông Hà đã quét dọn, rửa ráy, tẩy trùng nhà thờ và nhà xứ sau khi gỡ từng mảnh thịt người đã bám dính trên các tường và trần nhà ! Phước Sa thì không ai dám về lại nữa…

Sau khi không còn thấy mục tiêu di động nào thì đại bác bắn cấp tập… và một đơn vị bộ binh được trực thăng thả xuống quan sát chiến trường, không hề gom súng, lựu đạn, quân trang quân dụng vung vãi khắp nơi… Sau đó trực thăng Mỹ đến gắp từng xác chết gom về một nơi đã đào hố sẵn, đốt bằng xăng khô và lấp lại ! Còn những xác chết nằm trong các hóc xó nhà, kho, hoặc những xác chết ngồi ở các hầm cá nhân rải rác được ai đó lấy cát lấp lên nay thối um cả làng ! Không ai dám về làng nữa !…

Vậy mà đến lúc bí quá, phải có gì đó bỏ vào miệng, nên một buổi sáng đẹp trời tôi liều mạng dẫn hơn mười bà giáo dân từ nơi tạm cư Quán Ngang trở về… “chiến trường xưa”, may ra lượm được trái bắp, trái đậu, trái bí trái bầu… Vậy mà được thiệt đó ! Hôm đó tôi mặc áo chùng đen, các bà thì đem theo dao, rựa, gồng gánh… Tôi phải mặc như thế vì bên phe nào cũng dặn dò như vậy. Trên trời máy bay Mỹ thì tuần tra ngày đêm. Chúng tôi đã chứng kiến một chiến trường khủng khiếp ! Từng bước đi phải tránh súng đạn bom mìn ! Và tôi thấy rất nhiều vũ khí họ để lại quá đơn sơ, lạc hậu, nhất là những quả lựu đạn làm bằng thủ công…

Lượm được một ít hoa quả gì đó, chúng tôi nghe tiếng trực thăng… Không ! Một con “chuồn chuồn” sà xuống, một con hỗ trợ trên đầu ! Tôi thấy nòng súng chĩa xuống mà khiếp ! Mấy thằng lính Mỹ, có cả Mỹ đen nhanh chóng nhảy xuống khỏi máy bay, tích tắc đã bao vây, đưa nòng súng vào người chúng tôi ! Có hai nòng dành riêng cho tôi từ hai hướng… Tôi nói chúng tôi là ai, đến đây để làm gì… Và tôi đòi phải được gặp vị Tuyên uý trong đơn vị của họ… Tôi nói tiếng Mỹ mỏi hai tay !… Họ lùa chúng tôi lên máy bay ! Tôi xin đem theo gồng gánh để làm vật chứng… Họ chỉ cho đem theo hai bộ vì không đủ chỗ trên máy bay ! Các bà khóc la um sùm, tôi trấn an họ… Rồi mọi người hết khóc, thích thú khi máy bay cất cánh, chỉ chỏ dưới đất và cười vang ! Lính Mỹ cũng cười theo thích thú !… Tôi ngồi cạnh ông lính Mỹ đen bự con chắc gấp ba lần tôi, giữ súng đại liên, nòng hướng xuống đất, đôi mắt nhanh nhẹn quan sát địa hình với sự tập trung cao độ… Tôi nhìn xuống… Ôi thôi rõ ràng từng mục tiêu ! Tôi thấy rõ một con chó đang chạy… Khiếp thật !…

Máy bay đáp xuống căn cứ  Đông Hà… Không biết họ có gọi điện hay không mà vị Tuyên uý chạy xe jeep đến tận máy bay sau khi máy bay đáp xuống ít phút, đủ giờ cho chúng tôi từng người được giúp đỡ xuống đất và đi xa ra một đoạn… Tiếng máy bay lớn quá tôi không nghe được vị Tuyên uý trẻ, đẹp trai nói gì… Nhưng qua cách nói và cử điệu tôi biết những người lính bị la rầy nặng lời, và bằng chứng cụ thể là ngài đến bắt tay xin lỗi tôi, gọi tôi là father… Tiếp đó ngài bảo người lái xe mang đến một bao quà bự chia cho từng người, kể cả tôi ! Mọi người cười thỏa thích ! Chúng tôi được trả về vị trí cũ, những người lính Mỹ lịch sự xin lỗi và bye bye chúng tôi… Hú hồn nhưng thích thật !…

Các bà tranh thủ “hái lượm” tha hồ !… Và thú thực điều chúng tôi thích nhất cho tới bây giờ là được lên ngồi trực thăng chuồn chuồn quân sự của Mỹ !… Hỏi có mấy ai ?

Trước khi tôi đi Huế, cách đây hai tuần có người gọi điện thoại cho tôi sau khi đọc trang facebook của tôi… : “Cha nhớ con không ? Cha hay sai con đi mua thuốc lá Basto xanh đó ! Và mẹ con, bà M… bị bắt lên máy bay trực thăng với cha đó !”. Ôi ! Thích nhỉ… Mất đi tất cả rồi có lại… Có lại tất cả rồi có thể mất đi… Nhưng tình thương, hi sinh, kỷ niệm thì còn mãi, không bao giờ mất đi được…

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s