Chương 01. Bản chất Thánh lễ.

CHƯƠNG 1: BẢN CHẤT THÁNH LỄ CỐT LŨY CỦA HY TẾ

Thánh Lễ trong tiếng Latinh gọi là sacrificium, nghĩa là “hy tế”. Hy tế là một cái gì cao cả và quan trọng hơn là ‘lễ vật’. Ý nghĩa đúng và đầy đủ của Hy Tế là sự dâng hiến cho Thiên Chúa Tối Cao một cái gì bên ngoài chúng ta, được thánh hiến hay thánh hóa một cách trọng thể bởi một thừa tác viên của Hội Thánh được chỉ định hợp pháp và có thẩm quyền, để nhìn nhận và chứng thực quyền thống trị tuyệt đối của Thiên Chúa Toàn Năng trên mọi tạo vật.

Hy tế trọng thể này chỉ có thể được dâng lên cho một mình Thiên Chúa mà thôi, đó là điều đã được Thánh Augustinô chứng minh qua phong tục tập quán của tất cả các dân tộc trên thế giới. Ngài nói, “Có ai trên thế giới này đã từng tuyên bố rằng Hy Tế phải được dâng lên cho một ai khác ngoại trừ một mình Thiên Chúa thật, hay cho các tà thần mà họ tưởng lầm là Thiên Chúa thật hay không?” Và ở một chỗ khác, ngài nói, “Ma quỷ hẳn sẽ không đòi những kẻ thờ chúng phải dâng hy tế cho chúng không biết đây là một đặc quyền của Thần Linh”. Nhiều bậc vua chúa ở trần gian ngạo mạn đòi người ta dành cho mình hành vi tôn kính mà chỉ có một mình Thiên Chúa đáng được; nhưng thật ra rất ít người dám đòi hỏi người ta phải dâng hy tế cho họ. Đòi hỏi điều này có nghĩa là muốn coi mình là thần. Từ đó chúng ta có thể kết luận rằng việc dâng hy tế là một hành vi Thờ phượng Thần linh, không thể được dành cho con người, các Thiên Thần hay các Thánh, mà chỉ dành  cho một mình Thiên Chúa mà thôi.

Thánh Toma Aquinô nói: “Loài người dâng hy tế lên cho Thiên Chúa toàn năng là điều tự nhiên, và con người được thúc đẩy làm việc này do bản tính tự nhiên mà không cần một lệnh truyền rõ ràng nào. Chúng ta có  thể thấy điều này được biểu trưng trong trường hợp của Aben, Noê, Apbraham, Gióp và các Tổ Phụ khác, các ngài dâng hy tế lên Thiên Chúa, không phải vì vâng lời một luật của Thiên Chúa, nhưng do thúc đẩy của bản tính con người. Và không chỉ những người được Thiên Chúa soi sáng này dâng hy tế cho Người; cả những người ngoại giáo cũng theo ánh sáng tự nhiên mà dâng hy tế lên cho các ngẫu tượng của họ mà họ tin là các thần đích thực”.

Vào thời sau, Lề Luật do Thiên Chúa ban cho con cái Itraen đã buộc họ phải dâng hy tế cho Người hằng ngày; vào các ngày Lễ, phải có các nghi lễ linh đình hơn. Họ phải dâng lên Người chiên, cừu, bò,  bê; và các con vật này không chỉ được DÂNG mà thôi mà phải được SÁT TẾ bởi một vị Tư Tế với những kinh nguyện và lễ nghi quy định. Chúng phải được giết và lột da; máu chúng phải được rảy chung quanh bàn thờ và thịt chúng được thiêu trên bàn thờ giữa tiếng kèn và tiếng hát Thánh vịnh. Đây là những bổn phận thánh thiêng mà người Do Thái thi hành để tôn kính Thiên Chúa, nhìn nhận Người là Chúa Tể tuyệt đối của mọi tạo vật.

Ý tưởng về hy tế này quá ăn sâu trong bản tính con người khiến cho mọi dân tộc và mọi quốc gia, ngoài việc phụng sự Thiên Chúa bằng cầu nguyện, hát thánh thi, bố  thí và làm việc đền tội, họ cũng dâng hiến Người một loại hy tế để  tôn thờ Thiên Chúa thật, hay các thần mà họ cho là Thiên Chúa thật. Vì thế, quả là thích hợp và cần thiết việc Đức Kitô thiết lập trong Hội Thánh Người một lễ dâng thánh thiện và thần linh như một việc phục vụ hữu hình nhờ đó tín hữu dâng lên Thiên Chúa vinh quang của Người, và diễn tả sự thần phục của họ đối với Người. Không một con người có lý lẽ nào có thể tưởng tượng rằng Đức Kitô, Đấng đã thiết lập tất cả những gì là hoàn hảo nhất trong Hội Thánh của Người, mà lại bỏ qua hành vi thờ phượng cao cả nhất này và để Hội Thánh phải thiếu việc tối quan trọng này. Nếu thế, đạo Chúa Kitô sẽ thấp kém hơn đạo Do Thái, vì các lễ tế của Cựu Ước quá huy hoàng khiến cho cả những bậc vua chúa từ các xứ xa xăm cũng đến dự, và như chúng ta đọc trong sách Macabê (quyển II, 3:3), đến nỗi cả các vua dân ngoại cũng lấy tài sản riêng của họ mà dâng vào việc tế tự.

HY TẾ CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO

Trong Công Đồng Trentô, Hội Thánh Công Giáo dạy chúng ta biết Đức Kitô đã truyền cho Hội Thánh Người cách thức phải dâng HY TẾ THÁNH như thế nào.

Bởi vì, theo tác giả Thư Do Thái, do sự yếu đuối của chức tư tế Lêvi nên trong Cựu Ước không có sự hoàn hảo (Dt 7: 11 – 19); vì thế Thiên Chúa nhân từ đã truyền là cần phải có một vị Tư Tế khác, thuộc dòng Menkisêđê, là Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta. Đấng sẽ kiện toàn và dẫn tới mức hoàn hảo những người người sẽ được thánh hóa. Vì vậy Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa    và là Chúa chúng ta, mặc dù Người sắp sửa tự hiến một lần  duy nhất cho Chúa Cha trên bàn thờ, và cái chết của Người sẽ mang lại ơn cứu chuộc vĩnh viễn, nhưng vì chức tư tế của người không mất đi với cái chết của  Người, nên trong bữa Tiệc Ly vào đêm Người bị nộp, – để trối lại cho Hội Thánh, Hiền  Thê yêu dấu của Người, một hy tế hữu hình mà bản tính loại người cần có, đó là hy tế đổ máu sắp sửa được hoàn tất một lần trên Thập Giá có thể được         biểu thị và ghi nhớ cho đến ngày tận thế và quyền năng cứu độ của hy tế ấy mang lại ơn tha thứ cho các tội chúng ta phạm hằng ngày – trong khi tuyên bố Người là Tư Tế muôn đời theo dòng Menkisêđê, Người đã dâng lên Thiên Chúa là Cha của Người Mình và Máu Người dưới hình bánh và rượu này, Người đã trao ban Mình và Máu Người cho các Tông Đồ lãnh nhận, và cắt đặt họ làm những Tư Tế của Giao Ước Mới. Khi nói những lời sau đây: Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy” (Lc 22:19), Người truyền cho các Tông Đồ và những người kế nhiệm trong chức linh mục phải dâng hy tế này. Hội Thánh Công Giáo vẫn luôn luôn hiểu và truyền dạy như thế (CĐ Trentô, Khóa 22, Ch.1)

Hội Thánh đã dạy chúng ta những điều ấy, và đòi hỏi chúng ta tin rằng ở Bữa Tiệc Ly. Đức Kitô không chỉ biến đổi bánh và rượu thành Mình và Máu người, Người còn dâng bánh và rượu lên cho Thiên Chúa Cha, qua đó Người thiết lập nơi Bản Thân Người Hy Tế của Giao Ước mới. Người làm việc này để chứng tỏ Người là Tư Tế theo dòng Menkisêđê, như lời Kinh Thánh nói: Ông Menkisêđê, Vua Salem, mang bánh và rượu ra: ông là Tư Tế của Thiên Chúa Tối Cao và ông chúc lành cho ông Apraham (St 14: 18 – 19)

DÒNG MENKISÊĐÊ

Bản văn Kinh Thánh không nói rõ ở đây rằng ông Menkisêđê dâng hy tế lên cho Thiên Chúa Tối Cao, nhưng ngay từ thời đầu, Hội Thánh Công Giáo đã hiểu như thế và các Giáo Phụ cũng đã cắt nghĩa như thế. Chính vua Đavít đã cắt nghĩa theo cách này khi ông nói: Thiên Chúa Giavê đã thề và sẽ không bao giờ rút lại lời thề này: “Con là Tư Tế đến muôn đời theo dòng Menkisêđê” (Tv 10:4). Việc cả Đức Kitô và Menkisêđê đều dâng hy tế có thể được suy ra từ Thư Do Thái: Mọi Thượng Tế đều được cắt cử để dâng lễ vật và hy tế (Dt 8:3). Mọi Thượng Tế đều được chọn giữa loài người đều được cắt cử để tiếp xúc với Thiên Chúa thay cho loài người (Dt 5:1). Và hầu như ngay sau đó ngài thêm: Không ai tự gán cho mình vinh dự này, nhưng mỗi người đều được Thiên Chúa kêu gọi, giống như Aharon. Chính Đức Kitô cũng không tự ban cho mình vinh quang của chức Thượng Tế, nhưng Người đã nhận vinh quang ấy từ Đấng đã nói với Người: “Con là Con của Cha, hôm nay Cha đã sinh ra Con”, và ở một chỗ khác: “Con là Tư Tế đến muôn đời theo dòng Menkisêđê” (Dt 5:5-6). Và còn nữa: Sau khi đã thành toàn, Người trở nên nguồn mạch cứu rỗi đời đời cho những ai vâng phục Người, và được Thiên Chúa tuyên phong làm Thượng Tế ‘theo dòng Menkisêđê’. Về vấn đề này, chúng tôi có nhiều điều để nói, nhưng thật khó cắt nghĩa bởi vì anh em đã trở nên quá chậm hiểu (Dt 5:9-11).

Từ những đoạn trên, chúng ta thấy rõ rằng, vì Đức Kitô và Menkisêđê đều là Thượng Tế, nên cả hai Đấng đều dâng hy tế lên cho Thiên Chúa thật. Ông Menkisêđê không sát tế các con vật giống như ông Ápraham và những người tôn thờ Thiên Chúa xưa kia đã làm, nhưng ông được Chúa Thánh Thần soi sáng và hành động không giống với tập tục của thời đại ấy, ông đã hiến thánh bánh và rượu bằng một số kinh nguyện và nghi lễ, nhờ đó ông thánh hóa và dâng chúng lên cho Thiên chúa làm lễ vật đáng được Người chấp nhận. Vì vậy ÔNG trở thành một biểu trưng về Chúa Giêsu Kitô, và LỄ VẬT của ông trở thành một biểu trưng cho hy tế không đổ máu của Chúa Giêsu Kitô trong Tân Ước. Đức Giêsu không được xức dầu tấn phong làm Thượng Tế theo kiểu Aharon, là sát tế các con vật, nhưng theo Dòng Menkisêđê, là người dâng bánh và rượu làm lễ tế, vì thế Người cũng thi hành chức vụ Tư Tế của Người trong cuộc đời Người, và dảng lễ tế là Bánh và Rượu lên cho Thiên Chúa.

Chúng ta có thể hỏi. Vậy Đức Kitô thi hành chức tư tế của Người theo Dòng Menkisêđê khi nào? Vào Bữa Tiệc Ly, khi Đức Giêsu cầm lấy bánh, và sau khi dâng lời chúc tụng, Người bẻ bánh rồi trao cho  các môn đệ và nói: “Các con hãy cầm lấy mà ăn, này là Mình Thầy”. Rồi Người cầm lấy chén rượu, tạ ơn và trao cho họ: “Các con hãy lãnh nhận mà uống, này là Máu Thầy, Máu của Giao Ước” (Mt 26:26-28). “Các con hãy làm việc này mà tưởng nhớ Thầy” (Lc 22:19).

Vì vậy vào dịp này, Đức Kitô thi hành chức Tư Tế của Người theo kiểu Menkisêđê. Nhưng chúng ta hãy nghe tác giả Thư Do Thái tán dương chức Tư Tế của Người: Quả vậy, những người khác được phong làm Tư Tế mà không có một lời thề: còn Người, Người có một lời thề của Đấng đã phán với Người: “Đức Chúa đã thề và Người sẽ không rút lại lời thề này: Con là Tư Tế đến muôn đời”… Nhưng vì Đức Giêsu Kitô sống mãi muôn đời nên chức Tư Tế của Người không bao giờ có thể chấm dứt (Dt 7:20,21,24).

Vì vậy, chúng ta thấy sự thật trong những điều mà Hội Thánh Công Giáo dạy trong Công Đồng Trentô. Trong Bữa Tiệc Ly, Người dâng lên Thiên Chúa Cha Mình và Máu Người dưới hình bánh và rượu; và Người truyền cho các Tông Đồ và những ai kế nhiệm các ngài trong chức linh mục phải dâng những lễ vật dưới hình bánh và rượu khi Người nói: “Các con hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy.” Đúng như Hội Thánh Công Giáo vẫn luôn luôn nói và dạy. Và đây thực là lễ tế tinh tuyền không thể bị làm ra ô uế bởi bất cứ sự bất xứng hay xấu xa của người dâng, như đã được Chúa báo trước qua lời ngôn sứ Malaki rằng khắp mọi nơi người ta phải dâng lễ tế tinh tuyền để kính danh Người (CĐ Trentô. Khóa 22, Chương I).

LỄ TẾ TINH TUYỀN’ ĐƯỢC TIÊN BÁO

Việc dâng lễ tế tinh tuyền này đã được ngôn sứ Malaki báo trước qua những lời này: Ta không bằng lòng với các ngươi. Thiên Chúa các đạo binh phán: Ta không thấy từ tay các ngươi một lễ vật nào đáng được Ta chấp nhận, nhưng từ đông sang tây, Danh Ta được tôn kính giữa các dân tộc và khắp mọi nơi các dân tộc đều dâng hưong và lễ vật tinh tuyền để kính Danh Ta, vì Danh Ta được tôn vinh giữa các dân tộc (Ml 1:10-11). Tất cả các Giáo Phụ đều cho rằng đoạn Kinh Thánh này nói về HY TẾ THÁNH LỄ, vì lời tiên tri này không được ứng nghiệm trong Cựu Ước, nhưng trong Tân Ước, nơi mà các lời Chúa Cha nói với Con của Người cũng được ứng nghiệm: Con là Con của Cha, hôm nay Cha đã sinh ra Con. Và Cha sẽ ban cho Con các dân tộc làm sản nghiệp (Tv 2:7-8). Điều này được thực hiện khi các dân ngoại trở lại với Đức Tin nhờ lời giảng của các Tông Đồ. Hy Tế được ngôn sứ Malaki tiên báo ở đây không thể là hy tế được Đức Kitô dâng trên Thập Giá, như những người ngoài Công Giáo khẳng định, vì hy tế Thập Giá chỉ được dâng ở một nơi duy nhất là đồi Canvê, chứ không phải ở khắp nơi như Ngôn Sứ tuyên bố. Cũng không phải như người ta giả thiết rằng Ngôn Sứ nói về một hy tế bằng những lời ngợi khen hay các việc lành, vì những hành vi này không phải là những lễ hiến dâng đúng nghĩa, cũng không phải là một lễ dâng tinh tuyền, như lời Ngôn Sứ nói: Tất cả chúng con đã trở nên như người nhiễm uế, mọi việc lành của chúng con khác nào chiếc áo dơ (Is 64:5-6). Do đó, lời tiên tri này phải được hiểu là minh nhiên chỉ về HI TẾ THÁNH LỄ như một Hy Tế duy nhất của Tân Ước: một lễ hiến dâng tự nó hoàn toàn tinh tuyền và thánh thiện, được chính Đức Giêsu Kitô dùng các linh mục của Người mà dâng lên cho Chúa Cha mọi nơi và mọi thời. Đức Kitô là Thượng Tế chính, các linh mục của chúng ta chỉ là những Tôi Tớ của Người, Người dùng bàn tay và môi miệng của họ làm công cụ để dâng hy tế. Chính vì Đức Kitô trong thân thể vinh hiển của Người chúng ta không cảm thấy được, và vì chúng ta đồng thời cần phải có một Lễ Vật hữu hình để con mắt xác thịt có thể nhìn thấy, nên  Người dùng sự hợp tác của Linh Mục trong việc dâng Hy Tế của Người. Lễ tế sẽ tiếp tục được hiến dâng cho tới ngày tận thế.

Những người không Công Giáo bắt bẻ người Công Giáo chúng ta rằng từ Thánh Lễ không có trong Kinh Thánh. Đúng lắm, nhưng từ Ba ngôi cũng chẳng thấy có trong Kinh Thánh, song chúng ta vẫn buộc phải tin mầu nhiệm cực thánh này. Kinh Thánh cũng không truyền buộc chúng ta phải thánh hóa ngày Chúa Nhật hay rửa tội cho trẻ sơ sinh, thế nhưng chúng ta vẫn biết rõ đó là những bổn phận nghiêm trọng của chúng ta Trong các tài liệu của các Đức Giáo Hoàng và Tiến Sĩ Hội Thánh thời kỳ đầu, chúng ta gặp thấy từ ‘THÁNH LỄ’ rất thường xuyên, trong các tác phẩm của Thánh Giáo Hoàng Clêmentê. Kế vị thứ ba của Thánh Phêrô, và của các Giáo Hoàng Êvaristô và Alexandrô sống vào thế kỷ I. Thánh Augustinô, Thánh Ambrôsiô, Thánh Gioan Kim Khẩu và các Thánh Giáo Phụ khác của Hội Thánh thường dùng từ THÁNH LỄ khi nói về hy tế của Tân Ước. Thánh Ambrôsiô viết: “Tôi ở lại trong chức vụ của mình, bắt đầu cử hành Thánh Lễ và trong hy tế tôi cầu xin Thiên Chúa Toàn Năng đến phù trợ chúng ta.” Thánh Augustinô nói: “Chúng ta thấy đấy, trong các Bài Đọc được truyền cho chúng ta đọc trong Thánh Lễ.”v.v… Nhưng các vị Tiến Sĩ Hội Thánh này đều sử dụng từ ‘Thánh Lễ’, các ngài đã sống vào khoảng 300 năm sau Đức Kitô, điều đó chứng minh chắc chắn rằng từ Thánh Lễ đã được sử dụng phổ biến vào thời ấy.

Chúng ta biết các Tông Đồ quen cử hành Thánh Lễ là nhờ đọc thấy điều đó trong Sách Thánh và cuộc đời các Tông Đồ. Thánh Mátthêu bị đâm tại bàn thờ đang khi ngài dâng Thánh Lễ. Truyền thống kể rằng Thánh Anrê đã nói với quan tòa: “Hằng ngày tôi dâng lên Thiên Chúa Toàn Năng trên bàn thờ, không phải thịt con bò hay máu con dê, nhưng là Con Chiên vô tì tích của Thiên Chúa”. Các phụng vụ Thánh Lẽ do các Tông Đồ Giacôbê và Máccô soạn vẫn còn cho đến ngày nay. Người ta nói phần Lễ Qui là do Thánh Phêrô soạn, và các phần khác đã được một số Thánh Giáo Hoàng thêm vào. Từ những điều nói trên, chúng ta thấy Thánh Lễ đã được cử hành trong Hội Thánh ngay từ thời kỳ đầu, và trải qua mọi thời đại. Thánh Lễ luôn luôn được coi là Hy Tế đích thực của Tân Ước.

CÁC BÈ PHÁI LẠC GIÁO CÔNG KÍCH HY TẾ THÁNH LỄ

Các cuộc bách hại mà kẻ thù gian ác đã khơi dậy qua các thời đại chống lại Thánh Lễ là một bằng chứng cho thấy Thánh Lễ thật thánh thiêng biết bao và đáng sợ đối với ma quỷ chừng nào. Nếu không hẳn nó đã không tấn công Thánh Lễ một cách dữ dội đến thế. Vào các thời kỳ đầu của Hội Thánh Công Giáo, các thầy dạy lạc giáo quả thực không thiếu, nhưng không một ai trong số họ dám liều mình công kích Thánh Lễ, càng không dám tìm cách khử trừ Thánh Lễ. Bengarius là người đầu tiên cả gan nói và viết chống lại Thánh Lễ. Các lời dạy sai lạc của ông đã bị phơi bày và bị các nhà thần học Công Giáo thời ấy phản bác một cách thắng lợi. Hơn nữa ông còn bị Công Đồng của Hội Thánh kết án. Tuy nhiên, trước khi chết con người bất hạnh này đã từ bỏ các sai lầm của mình và sống những ngày cuối đời trong sự ăn năn sám hối của một người con của một Hội Thánh Công Giáo.

Vào đầu thế kỷ 12, những người thuộc phái Albigensê vô đạo xuất hiện tại Pháp. Ngoài những chủ trương tệ hại khác, họ còn cho rằng hôn nhân là một tình trạng phi pháp; họ khuyến khích nam nữ nếp sống chung chạ. Đúng là họ không bác bỏ Thánh Lễ Đại Triều có đông người tham dự, nhưng họ không chịu chấp nhận Thánh Lễ Thường chỉ có ít người dự. Trên thực tế, họ nghiêm cấm dân tham dự các lễ này, ai tham dự sẽ bị phạt tiền hay phạt tù.

Từ thời các Tông Đồ cho tới nay. Hy Tế Thánh Lễ chưa từng có một địch thù nào hung dữ bằng Martin Luther. Con người bất hạnh này không chỉ công kích mà còn thóa mạ Mầu Nhiệm Thánh này. Ông không chỉ tự mình có hành động này, mà không chỉ làm lần đầu khi ông chối đạo, nhưng cả sau này do ma quỷ xúi dục nữa. Thực vậy, chính con người lầm lạc này đã thừa nhận trong các sách viết là lời dạy của ông đến từ ma quỷ và chính ma quỷ đã xúi dục ông bác bỏ Thánh Lễ như một hành vi thờ quấy, mặc dù bản thân ông phải biết rõ rằng ma quỷ là kẻ thù ghét tất cả những gì tốt lành và nó chẳng dạy loài người điều gì khác ngoài sự xấu xa. Hơn nữa, lẽ ra Luther phải nghĩ rằng nếu Thánh Lễ là hành vi thờ quấy, thì ma quỷ sẽ không chống đối, càng không muốn loại bỏ. Ngược lại, nó sẽ cổ võ và ca ngợi Thánh Lễ, bởi vì người ta càng cử hành Thánh Lễ nhiều thì người ta càng phạm nhiều hành vi thờ quấy, và càng làm ô danh Thiên Chúa Tối Cao.

Bằng cách này, Satan đã không chỉ làm cho những người theo Luther, mà tất cả những phái Tin Lành xuất hiện sau khi ông phải mất đi ơn cứu độ do Hy Tế Thánh Lễ mang lại, và vì thế khiến họ bị tổn hại vô phương cứu chữa. Thực vậy, ông đã làm cho Mầu Nhiệm siêu vời này trở thành quá ghê tởm đối với họ khiến họ tuyên bố Hy Tế Thánh Lễ là một sự phủ nhận Hy Tế Thập Giá, một việc thờ quấy đáng nguyền rủa như chúng ta đọc thấy trong Sách Giáo Lý Heidelberg của phái Calvin. Sự báng bổ kinh khủng này đủ để khiến cho mọi tâm hồn đạo đức ghê sợ, và khiến cho mọi người Kitô hữu tốt lành phải bịt tai. Chúng ta sẽ không cần nói dài dòng để phi bác những lời báng bổ như thế, chỉ cần một luận chứng sau đây cũng đủ để phi bác chúng.

Nếu những lạc thuyết này đúng, thì đương nhiên từ thời Đức Kitô đến nay, không một người nào dù Tông Đồ hay Tử Đạo, có thể được cứu rỗi. Các Thánh Tông Đồ và mọi Đấng kế nhiệm các ngài đều đã cử hành và dâng Hy Tế Thánh Lễ lên Thiên Chúa Tối Cao. Vậy, nếu Hy Tế Thánh Lễ là thờ quấy và phủ nhận Hy Tế của Đức Kitô trên Thập Giá, thì các Thánh Tông Đồ và mọi tín hữu hẳn là đã phạm tội thờ quấy, hẳn là họ đã xúc phạm nặng nề đối với Thiên Chúa Uy Linh và làm cho mình đáng phải luận phạt đời đời. Và vì không một người có lý lẽ nào tin vào một lời khẳng định như thế, nên không một ai có thể tin rằng lời dạy của phái Calvin là đúng. Thay vì nghe the lời Calvin và Luther bạn hãy nghe lời sau đây của Thánh Fulgentiô: “Hãy giữ vững giáo thuyết và chớ bao giờ để mình hoài nghi rằng Con Một Thiên Chúa đã làm người vì chúng ta và đã tự hiến cho Chúa Cha vì chúng ta. Người là Đấng mà Hội Thánh Công Giáo bây giờ không ngừng dâng lên của lễ là bánh và rượu với tinh thần Đức Tin và Đức Ái”. Ai là người đáng để chúng ta tin – một thày dạy thánh thiện và sáng suốt của Hội  Thánh, hay là hai kẻ chối đạo như Luther và Calvin?

Với hai người này, ta có thể dùng lời mà nhà thông thái phêrô ở Cluny nói với những kẻ lạc giáo: “Nếu lời dạy của các ông được mọi người chấp nhận, nếu các Kitô hữu phải loại bỏ Thánh Lễ, thì điều này không bao giờ xảy ra vào mùa của Thịnh Nộ sẽ xảy ra vào mùa của Ân sủng này: Thiên Chúa sẽ không còn được thờ phụng ở trần gian này nũa. Vì vậy, hỡi những kẻ thù của Thiên Chúa, hãy nghe khi Hội Thánh của Thiên Chúa dạy các ông rằng Hy Tế Thần Linh là cốt tủy sự hiện hữu của Hội Thánh, và trong Hy Tế này, Hội Thánh dâng Mình và Máu Đấng Cứu Chuộc mỗi khi lễ dâng này  được thực hiện”.

Vì vậy chúng ta hãy cảnh giác không để xảy ra cho chúng ta cùng những điều đã xảy ra cho những kẻ lạc giáo bất hạnh. Vì ma quỷ cướp mất Thánh Lễ nơi những kẻ lạc giáo và làm hại họ; còn đối với người Công Giáo chúng ta, vì ma quỷ không thể tước đoạt Thánh Lễ của chúng ta, nên nó bịt mặt chúng ta lại khiến chúng ta không thể quý chuộng đầy đủ sự cao vời của Hy Tế Thánh Lễ và quyền năng vô  biên của Hy Tế này. Không nghi ngờ gì, chính thủ đoạn của Satan đã làm cho trong một thời gian dài, Mầu Nhiệm Thần Linh rất ít khi được giảng dạy. Hậu quả là người Công Giáo trở nên chểnh mảng trong việc tham dự Thánh Lễ, hoặc có tham dự thì cũng thiếu sốt sắng.

Để ngăn ngừa điều tai hại này, Công Đồng Trentô đã truyền cho những người chăm sóc các linh hồn phải giảng thường xuyên về Thánh Lễ. Sắc lệnh nói như sau: “Thượng Hội Đồng buộc các mục tử và tất cả những ai có trách nhiệm chăm sóc các linh hồn, phải thường xuyên đích thân hay nhờ người khác giảng giải, trong khi cử hành Thánh Lễ, một số phần được đọc trong Thánh Lễ, và họ phải cắt nghĩa các Mầu Nhiệm của Hy Tế Thánh Thiêng cao vời này, đặc biệt vào các ngày Chúa Nhật và các ngày Lễ.” (Khóa 22, Ch.8). Nếu giáo dân không hiểu biết giá trị cao cả của Thánh Lễ, họ sẽ không yêu mến quý chuộng Thánh Lễ đúng mức; họ sẽ không bao giờ đi lễ ngày thường, còn các ngày Chúa Nhật và Lễ Nghỉ, họ sẽ thường xuyên tỏ ra chểnh mảng, bất kính, hời hợt, họ sẽ viện những cớ không đâu để bỏ lễ mà không chút áy náy lương tâm.

Nhưng nếu họ hiểu biết hiệu quả và giá trị to lớn của Thánh Lễ, họ chắc chắn sẽ hết sức quí chuộng kho tàng vô giá này, yêu mến sâu xa và tham dự Thánh Lễ với đầy lòng cung kính. Trong Hội Thánh Công Giáo, không có mầu nhiệm nào quan trọng hơn, an ủi hơn, giàu ơn cứu độ hơn là Mầu Nhiệm cao cả này của Bàn Thờ. Chỉ cần sự thật này được nhìn nhận đúng đắn, chúng ta chắc sẽ thấy các tín hữu tham dự trong các ngày thường một đông hơn.
*
Thánh lễ – Hy tế tuyệt vời

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s